Ngôi nhà anh Quang ở Đà Lạt vẫn như xưa…

ndq03.JPG

Nơi ngày xưa bạn bè thường đến, có căn gác gỗ nhì ra vườn rau xanh thoai thoãi ngọn đồi.
ndq06.JPG

Anh Cao bá Hưng&anh Ngô mạnh Thu.

ndq04.JPG

…những người bạn của lớp sóng Thùy Dương.

ndq05.JPG
Em trai anh, Nguyễn đức Vinh , làm thơ và Nhạc Phật.
ndq01.JPG
ndq02.JPG

Xin thưởng thức những điều bạn bè nghĩ và viết về anh…

Nhạc sĩ sáng lập Du ca qua đời: Nguyễn Đức Quang

Hao-Nhien Vu

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011) qua đời 4 giờ sáng hôm nay 27/3 tại Quận Cam, sau nhiều tuần nửa tỉnh nửa mê vì cơn stroke thứ nhì.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là tác giả “Việt Nam quê hương ngạo nghễ,” “Chiều qua Tuy Hòa,” “Bên kia sông,” “Vì tôi là linh mục,” …

Tớ gọi nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là chú Quang vì ông là bạn của bố vợ tớ. Tớ hơi tiếc là có một số bạn bè trong đây không có dịp gặp được chú Quang, và có lẽ sẽ còn một thời gian rất lâu nữa mới có cả một thế hệ những người như chú Quang.

Bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” thì nhiều người biết rồi, nhưng tớ muốn kể xuất xứ bài Bên kia sông vì tớ thấy nó tiêu biểu cho thanh niên miền Nam của một thời.

“Này người yêu, người yêu anh ơi
Bên kia sông là ánh mặt trời
Này người yêu, người yêu anh hỡi
Bên kia đời cỏ hoa đan lối
Bên kia núi, núi cao chập chùng
Bên kia suối, suối reo lạnh lùng
Là bài thơ, toàn chữ hư vô”

Quận 8, khi chưa có chương trình phát triển (ảnh VQHN)

Bài này, lời thơ Nguyễn Ngọc Thạch, chú Quang sáng tác khi ông 20 mấy tuổi. Lúc đó, phong trào Du ca mới phát triển.

Việc chính của Du ca là ca hát, tất nhiên, nhưng bên cạnh những sinh hoạt văn nghệ ca hát là công tác xã hội nhân đạo, ở những vùng quê xa, những xóm nghèo, những trại tản cư của người dân quê chạy bom đạn tràn về thành phố.

Trong những sinh hoạt này, người thanh niên tình nguyện xuống sửa sang ngõ hẻm, chỉnh trang nhà cửa, đó là những việc làm nhất thời. Còn về lâu về dài, thì dạy nghề cho nam nữ thiếu niên.

Nhiều sinh hoạt diễn ra ngay tại các quận vùng biên của Sài Gòn. Xin các bạn hiểu cho là thời đó Sài Gòn chỉ có dưới 2 triệu dân, và các quận vùng ven thì còn thưa thớt hơn. Một trong những quận được chọn làm thí điểm phát triển là quận 8, bên kia cầu chữ Y, nghèo nhất Sài Gòn. (Quận 8 hiện nay gồm quận 7 và quận 8 cũ gộp lại.) Dân số lúc đó chắc 150,000 người.

Thì sau một ngày tình nguyện ở Quận 8, tối ngủ lại đó, nhìn về Sài Gòn hoa lệ sáng lóa bên kia sông, chú Quang nhớ tới bài thơ ông Thạch, bèn lấy guitar ra, ngay trong tối hôm đó làm xong bài Bên kia sông.

Tớ kể câu chuyện này để cho thấy cái tinh thần của giới thanh niên Việt Nam thuộc thế hệ đó.

Họ có cái nhiệt huyết của người trẻ. Có cái sự trong trắng tin tưởng rằng nếu mình bỏ sức ra thì tương lai đất nước sẽ tươi đẹp hơn.

Và cái câu mà ngày nay chúng ta cười là lời lẽ tuyên truyền, rằng thanh niên là người tổ quốc mong cho mai sau? Họ tin như thế thật.

Giữa thập niên 1960, khi chứng kiến sức mạnh sinh viên học sinh giúp thay đổi toàn diện hệ thống cai trị nhiều lần liên tiếp trong 2 năm, họ đã từng tin rằng họ, thanh niên Việt Nam, thực sự là rường cột của đất nước.

Điều này có lạ với các bạn không? Sẽ không lạ, nếu các bạn so sánh với Ai Cập, khi bỏ được chế độ TT Mubarak thì sau đó sinh viên học sinh Ai Cập tự nguyện vác nước, xô, khăn, ra chùi rửa sạch sẽ quảng trường Tahrir. Thanh niên Việt Nam đã từng một thời như thế.

Cho nên tớ không ngạc nhiên tí nào khi, đã 66-67 tuổi rồi, ông còn nhận lời làm giám đốc trại hè Project Vietnam Foundation, đưa một đoàn thanh niên Việt Nam từ hải ngoại, hầu hết là ở California, về Việt Nam sinh hoạt trại. Sinh hoạt với các em. Dạy các em hát, chơi các trò chơi, hướng dẫn tiếng Việt, sử Việt, địa lý Việt. Dắt các em đi làm thiện nguyện.

Vì tới lúc đó, chú Quang vẫn tin rằng các em này, thanh niên Việt Nam, là rường cột của đất nước.

                    * * *

Năm 2007, lúc trong nước rầm rộ biểu tình Trường Sa Hoàng Sa, tớ ghé thăm chú Quang, lúc đó chú mới mở công ty QMS Media với hai người bạn (tên M và tên S, tất nhiên). Công ty này xuất bản 2 tờ tuần báo, làm một chương trình phát thanh, và thêm một chương trình truyền hình. Mà nhân sự công ty có tất cả chưa tới 10 người kể cả 3 vị Q, M và S.

Chú rất bận, nhưng tớ nói tớ xin quay một khúc phim chính chú Quang hát bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ,” để bỏ lên blog tặng mấy bạn trẻ trong nước, chú chịu ngay. Tớ đến thì chú còn đang … làm báo. Hình như phải đưa bài đi để in ngay tối hôm đó.

Chú dắt tôi vào phòng quay của truyền hình, rồi chú lấy đàn guitar hát cho tôi quay. Hát cho một cái máy camcorder chút xíu, nhưng mới phập phùng vài hợp âm là chú sung sức, nhắm mắt hát như trước đám đông.

Quay xong, chú bảo, “lời hai có đoạn chú hát sai.” Tớ hỏi, “Chú muốn quay lại từ đầu không?” Chú ngần ngừ rồi bảo, “Thôi.”

Lời chú Quang hát sai, lại chính là lời hào hùng nhất của bài:

“Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam.”

* * * * *

Người nhạc sĩ Du Ca đã ra đi mãi mãi…

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang – cánh chim đầu đàn của Ban Trầm Ca và Phong trào Du Ca Việt Nam, đã vĩnh viễn ra đi. Là một người bạn, tôi muốn nhân dịp này phác họa lại một số nét về cuộc đời của người nhạc sĩ du ca này – người đã để lại cho đời những bài hát nói lên ước vọng, tâm tình của cả một thế hệ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh:

Nguyễn Đức Quang sinh ngày 11 tháng 2 năm 1944 tại Sơn Tây, là con trai thứ trong một gia đình có 6 anh chị em – ba trai, ba gái.

Tháng 4 năm 1954, cha anh – một viên chức trong ngành giáo dục, được điều động vào Sài Gòn. Nguyễn Đức Quang – lúc đó mới 10 tuổi, theo cha mẹ vào Nam. Sau hiệp định Genève (tháng 7 năm 1954), đất nước bị chia đôi, gia đình Quang cũng bị chia cắt: người anh cả cùng ba người chị gái ở lại miền Bắc, chỉ có anh và đứa em trai út sống ở miền Nam cùng với cha mẹ cho đến tháng 4 năm 1975.

Năm 1959, cha anh được điều động lên công tác tại Ty Tiểu học Đà Lạt. Yêu mến cảnh vật và con người nơi đây, mẹ anh quyết định chọn nơi này làm quê hương và mua lại căn nhà số 33 đường Calmette (nay là đường Phạm Ngọc Thạch) làm nơi cư ngụ lâu dài của gia đình. Thành phố Đà Lạt chính là nơi Nguyễn Đức Quang đã sống một thời tuổi trẻ và cũng là nơi để lại những kỷ niệm sâu đậm nhất, in dấu ấn vào nhiều bản tình ca của anh sau này.

Tại Đà Lạt, sau hai năm theo học tại Trường Bồ Đề, kể từ năm đệ tam Quang vào học tại trường Trung học Trần Hưng Đạo. Sau khi tốt nghiệp Tú tài II (năm 1964), Quang theo học tại Viện Đại học Ðà Lạt và tốt nghiệp khóa 1 Chính trị Kinh doanh vào năm 1968.

Từ tuổi thiếu niên, Quang đã ham mê các sinh hoạt đoàn thể, nhất là phong trào Hướng đạo. Những người bạn thân thiết đầu tiên của anh như các anh Hoàng Kim Châu, Đoàn Chim, v.v… về sau đều trở thành những huynh trưởng Hướng đạo nổi tiếng. Là một thiếu sinh, anh trở thành Đội trưởng Đội Voi, và sau đó là Đội trưởng Nhất thuộc Thiếu đoàn Lê Lợi. Năm 1964, anh đảm nhiệm chức Bầy trưởng Bầy Ngàn Thông của Đạo Lâm Viên. Tinh thần Hướng đạo ấy, Nguyễn Đức Quang đã giữ mãi trong suốt cuộc đời, thể hiện trong nhiều sáng tác âm nhạc cũng như các hoạt động nhiều mặt của anh.

Vốn có năng khiếu về âm nhạc, Nguyễn Đức Quang đã ham mê sáng tác các ca khúc ngay từ thời còn trẻ. Nhưng khác với các nhạc sĩ khác – thường bắt đầu quá trình sáng tác âm nhạc của mình bằng các bản tình ca, ca khúc đầu tay của anh là một bài hát dành cho Hướng đạo có tên là “Gươm thiêng hào kiệt” (1961).

Trong những năm 1963-1964, những biến cố chính trị dồn dập xảy ra ở miền Nam đã khiến Nguyễn Đức Quang bắt đầu quan tâm đến những vấn đề chung của đất nước. Không chỉ dừng lại ở những bài hát tập thể dành cho các sinh hoạt thanh thiếu niên, Quang bắt đầu chuyển hướng sang các ca khúc có chủ đề “Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc”. Những suy tư của cả một thế hệ thanh niên sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, những ưu tư đối với vận mệnh của dân tộc, sứ mệnh của những người thanh niên yêu nước được chất chứa trong một loạt bài hát về sau được gọi  tên là Trầm ca (những bài hát trầm tư)[1]. Bài hát tiêu biểu cho thể loại này là bài “Nỗi buồn nhược tiểu”.

Trong những năm 1964-1965, khi phong trào công tác xã hội bùng lên ở miền Nam, Quang cùng các bạn tham gia các hoạt động xã hội như: làm công tác xã hội, cứu trợ nạn nhân bão lụt, nạn nhân chiến tranh, … Những bài hát của anh bắt đầu được phổ biến trong các trại công tác xã hội, trong các đoàn thể thanh thiếu niên như Hướng đạo, Gia đình Phật tử, Thanh sinh công, v.v… đặc biệt là trong Chương trình Công tác hè năm 1965.

Sau mùa hè năm 1965, cùng với một số bạn đồng môn là cựu học sinh trường Trần Hưng Đạo (Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo, Nguyễn Quốc Văn, Hoàng Thái Lĩnh), Nguyễn Đức Quang thành lập một ban nhạc. Đây là một ban nhạc cực kỳ gọn nhẹ: chỉ với một cây đàn ghi-ta thùng và những giọng hát không chuyên nghiệp của những sinh viên gốc Đà Lạt, ban nhạc này đã nhanh chóng chinh phục được nhiều người hâm mộ. Phong cách biểu diễn hoàn toàn mới mẻ: người đến tham dự không chỉ để nghe hát và vỗ tay hoan hô mà cùng hát với những người trên sân khấu theo tinh thần “hát hay không bằng hay hát”, “hát với nhau”, “cùng nhau hát”. Trong nửa cuối năm 1965, ban nhạc này vẫn chưa có tên chính thức mặc dù đã đi hát ở nhiều nơi và được hoan nghênh nhiệt liệt.

Tháng 12 năm 1965, ban nhạc của Nguyễn Đức Quang trở về thành phố quê nhà. Đêm 19-12-1965, ban nhạc đã chính thức ra mắt tại giảng đường Spellman – Viện Đại học Đà Lạt; cùng tham gia chương trình có nhạc sĩ Phạm Duy với những bài “tâm ca” vừa mới sáng tác. Đêm kế tiếp (20-12) ban nhạc lại trình diễn một buổi thứ hai tại giảng đường Thụ Nhân và lần này có sự tham gia của  Phương Oanh – ca sĩ hát dân ca tài năng nhất của miền Nam thời đó. Sau lần trình diễn chung đó, Phương Oanh gia nhập ban nhạc và trở thành giọng ca nữ duy nhất của ban nhạc hình thành từ ngẫu hứng này. Sau thời điểm lịch sử đó, ban nhạc lấy tên là Trầm Ca. Ngày 19-12-1965 có thể được xem là ngày ra đời của Ban Trầm Ca và cũng là sự khởi đầu của Phong trào Du Ca về sau này.

Bước qua năm 1966, Ban Trầm Ca đã cùng với nhạc sĩ Pham Duy đi lưu diễn ở một số tỉnh thành ở miền Nam. Được sự hỗ trợ của một số huynh trưởng hoạt động thanh niên tại Sài-gòn, Nguyễn Đức Quang và Ban Trầm Ca đã tổ chức 8 khóa Thanh ca Tác động nhằm đào tạo hạt nhân để phát triển phong trào. Cuối năm 1966, Phong trào Du ca Việt Nam được chính thức thành lập như một tổ chức thanh niên tự nguyện với mục đích giáo dục thế hệ trẻ thông qua các hoạt động văn nghệ và sinh hoạt cộng đồng. Đinh Gia Lập – một hướng đạo sinh, cựu học sinh Trường Trần Hưng Đạo, cũng là một thành viên của Ban Trầm Ca mặc dù không tham gia trình diễn, đã trở thành Chủ tịch lâm thời của Phong trào Du Ca.

Năm 1967, Phong trào Du Ca tổ chức Đại hội lần đầu tiên tại Sài Gòn. Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ được bầu làm Chủ tịch và đã giữ chức vụ này cho đến khi được thay thế bởi nhà báo Đỗ Ngọc Yến (năm 1972). Tổ chức thanh niên mới mẻ này đã phát triển rộng khắp trên khắp các tỉnh thành ở miền Nam Việt Nam cho đến tận tháng 4 năm 1975 mới ngưng hoạt động tại quốc nội.

Có một chi tiết thú vị cần được nhắc đến: nhà để xe (garage) và nhà bếp của ngôi biệt thự số 114 đường Sương Nguyệt Anh[2] – Sài Gòn (tư gia của anh Tuệ) chính là “tổ ấm” của Ban Trầm Ca ngay từ lúc ban nhạc chưa có tên. Nói cách khác, huynh trưởng Hoàng Ngọc Tuệ chính là vị “mạnh thường quân” đã cưu mang Ban Trầm Ca và Phong trào Du ca ngay từ thời còn trứng nước.

Ảnh 1: Từ trái sang phải: Hoàng Thái Lĩnh, Trần Trọng Thảo, Nguyễn Thạc (một thân hữu), Hoàng Kim Châu và Nguyễn Đức Quang

Là một tổ chức thanh niên, Phong trào Du ca Việt Nam bao gồm nhiều bộ phận, trong đó phần sáng tác âm nhạc được giao cho “Xưởng Du ca”[3], do Trưởng Xưởng Du Ca phụ trách. Nguyễn Đức Quang là Trưởng Xưởng Du Ca đầu tiên kể từ năm 1966 cho đến khi giao lại trách nhiệm cho nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu tức Trần Tú vào năm 1972.

Sau biến cố 30-4-1975, mặc dù chiến tranh chấm dứt nhưng gia đình của Nguyễn Đức Quang vẫn không có cơ hội đoàn tụ. Do thời gian phục vụ trong quân đội VNCH, mặc dù đã được biệt phái về ngành ngân hàng, Quang phải trải qua một thời gian “học tập cải tạo” khoảng 3 năm. Năm 1979, sau khi từ trại học tập cải tạo trở về, Nguyễn Đức Quang cùng vợ con vượt biên đến tị nạn tại Hoa Kỳ. Như vậy là gia đình anh lại ly tán một lần nữa. Đó chính là lý do chúng ta thấy Nguyễn Đức Quang cho đến trước khi lìa đời vẫn mang một tâm sự buồn, và vẫn hoài vọng một sự đoàn tụ thật sự của cả dân tộc trong tương lai.

Kể từ khi định cư tại Little Saigon – California, Nguyễn Đức Quang hoạt động liên tục trong ngành truyền thông. Trong những năm 1984-1988, anh đã từng là Giám đốc trị sự, Chủ bút và Tổng giám đốc của Báo Người Việt – tờ nhật báo nổi tiếng nhất của người Việt hải ngoại phát hành tại California – Hoa Kỳ. Thời gian sau đó, anh sáng lập nhật báo Viễn Đông. Sau khi rời báo Viễn Đông, anh còn cộng tác với bạn bè lập công ty truyền thông và làm một số tờ báo khác. Trong thập niên cuối cùng của đời mình, anh tìm cách nối lại vòng tay thân ái giữa những thanh niên Mỹ gốc Việt với thanh niên trong nước thông qua các trại hè do Project Vietnam Foundation tổ chức.

Nhưng cho dù hoạt động trong bất cứ ngành nghề nào, dòng máu âm nhạc vẫn còn chảy mạnh mẽ trong con người Quang. Vì thế, trong khoảng một thập niên cuối đời, anh trở lại với sáng tác ca khúc và gắn bó với hoạt động của Phong trào Du ca Việt Nam – được hồi sinh tại hải ngoại từ hơn một thập niên trở lại đây. Anh đã đi lưu diễn ở nhiều nơi trên thế giới, từ Bắc Mỹ cho đến châu Úc, châu Âu, đồng thời tiếp tục sáng tác ca khúc mới.

Sau khi người vợ thân yêu của anh qua đời (tháng 3-2009) và sau hai lần vượt qua bệnh tật, vào tháng 2 năm 2010, Quang đã về ăn Tết tại quê nhà. Anh đã có dịp thăm lại gia đình các anh chị ở miền Bắc, có dịp thăm lại căn nhà cũ, nơi gia đình của người em trai là Nguyễn Đức Vinh đang cư trú. Vào đêm 19-2-2010, trên căn gác thân thương, anh đã hát cho các em, các cháu và những người bạn thân thiết ngày xưa nghe một số bài hát mới do anh sáng tác trong những năm cuối đời.

Ảnh 2: Hoàng Thái Lĩnh và Nguyễn Đức Quang (Đà Lạt – Tết Canh Dần 2010)

Đó cũng chính là lần cuối cùng anh trở về thăm Đà Lạt để rồi ra đi vĩnh viễn, không bao giờ trở lại với thành phố thân thương – nơi có “con phố xưa”, có “con dốc nhỏ” đã ghi lại dấu tích của tình yêu và những cảm xúc đầu đời.

Sau chuyến đi châu Âu (tháng 9 năm 2010), Nguyễn Đức Quang trở lại Hoa Kỳ để chuẩn bị cho những buổi trình diễn nhạc du ca. Chính trong quá trình tích cực chuẩn bị cho một buổi sinh hoạt âm nhạc dự kiến tổ chức vào hạ tuần tháng 2 năm 2011, Quang bị đột quỵ vì tai biến mạch máu não. Ngày 11-2-2011, Quang được đưa vào bệnh viện và một tháng rưỡi sau đó, anh ra đi vĩnh viễn vào 4 giờ sáng ngày 27-3-2011 (giờ California – Hoa Kỳ) nhằm ngày 23 tháng 2 năm Tân Mão, hưởng thọ 68 tuổi (tính theo âm lịch). Ngay buổi chiều hôm đó, anh được Hội đồng Trung ương Hướng Ðạo Việt Nam truy tặng Bắc Đẩu Huân Chương, huy chương cao quý nhất của phong trào Hướng Ðạo Việt Nam dành cho trưởng có công gìn giữ và xây dựng một phương pháp giáo dục thanh thiếu niên.

Là con chim đầu đàn của Phong trào Du ca, Nguyễn Đức Quang đã để lại cho chúng ta một di sản âm nhạc phong phú thuộc nhiều thể loại, từ tình ca cho đến các bài hát sinh hoạt cộng đồng, nhưng đáng chú ý nhất là những bài hát “nhận thức” – chất chứa tình tự dân tộc, lòng yêu quê hương, những suy tư của người dân một nước nhược tiểu muốn vươn lên để làm thay đổi số phận của dân tộc mình. Trong số các bài hát do anh sáng tác, nhiều bài hát đã được phổ biến rộng rãi trong nhiều thế hệ thanh niên, đến mức ngay cả những người yêu thích cũng không hề biết rõ xuất xứ của bài hát. Cuối năm 2007, bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” đã được các thanh niên sinh viên học sinh yêu nước hát lên trong dịp tổ chức biểu tình để phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa nhưng mãi về sau, người ta mới biết đó là một bài hát do Nguyễn Đức Quang sáng tác vào giữa thập niên 1960.

Trong những ngày này, tưởng niệm Nguyễn Đức Quang, chúng ta – những thân quyến và bằng hữu của anh, và cả những người ái mộ anh thuộc nhiều thế hệ, trong đó có những người đã sát cánh cùng anh từ gần nửa thế kỷ qua, không khỏi bùi ngùi xúc động khi nhớ đến anh với dáng người cao nghều, với giọng hát dũng mãnh không cần đến micro, chỉ với cây đàn và tiếng hát đã đi đến khắp nơi, từ những nơi đầy khói lửa chiến tranh đến tận những xóm nghèo trong các đô thị, từ các sân khấu ngoài trời trong khuôn viên các trường đại học cho đến tận các vùng quê cằn cỗi, để dùng tiếng hát, lời ca nói lên những tâm tình của một thế hệ thanh niên sinh ra và lớn lên cùng chiến tranh nhưng trong tận đáy lòng vẫn mong ước đến hòa bình.

Trong một đất nước mà dân tộc bị phân ly, trải qua một cuộc nội chiến kéo dài, nguyện vọng sau cùng của Quang vẫn là hàn gắn vết thương lòng của dân tộc, như lời hát của bài “Trên đồi Arlington” – một trong những sáng tác sau cùng của anh. Xin trích dẫn một số đoạn:

“… Làm sao tin thế được?

Làm sao gọi là vinh quang?

Cuộc chiến vùi sâu dân tộc,

khơi dậy những hờn căm

Thắng ngoáy dài mũi kiếm

Thua xuống cuối biển đông

Sao gọi anh hùng được

Hồn lệ sử thấu chăng?

 

Đã bảo vết thương không nhắc nữa

Vì ai khoe sẹo khiến bâng khuâng

Ừ nhỉ xưa kia thành quách đổ

Thắng bại anh hùng có xứng chăng?”

 

Nhưng Nguyễn Đức Quang không dừng lại với cái nhìn bi quan, với tâm trạng yếm thế. Bước ra khỏi cuộc nội chiến, anh vẫn hy vọng vào tương lai, mong ước đến sự hàn gắn vết thương vô cùng lớn, vô cùng sâu mà chiến tranh đã để lại trong lòng mỗi gia đình cũng trong lòng toàn dân tộc. Nhìn vào những nấm mộ chiến sĩ vô danh trong nghĩa trang Arlington – tượng trưng cho những người lính Mỹ của cả hai phía trong cuộc nội chiến Nam-Bắc, anh vẫn nuôi hy vọng đến một lúc nào đó, những người lính Việt Nam đã hy sinh trong chiến tranh dù là ở Nam hay ở Bắc cũng đều có thể nằm cạnh nhau. Đó chính là lúc khép lại quá khứ, khép lại một giai đoạn lịch sử để mở đường cho một tương lai mới, như lời kêu gọi của những tử sĩ muốn nhắn gửi qua lời ca của người nhạc sĩ du ca:

…Này bạn, cùng chiến đấu,

cùng gục ngã viên đạn ngược đường bay

Về đây, cùng tới đây, chia nhau nghĩa trang này

không lời hờn oán đắng cay

 

…Bắc Nam cùng mạch sống!

Thắng thua đều anh hùng !

Bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng

chung dòng “Tổ Quốc Ghi Công”

Mặc dù Nguyễn Đức Quang đã ra đi giữa lúc những vết thương do nội chiến gây ra vẫn chưa được hàn gắn, chúng ta có thể tin tưởng rằng nguyện vọng của anh – cũng là nguyện vọng chung của cả một dân tộc đã trải qua chiến tranh, đau thương, ly tán, nhất định sẽ trở thành hiện thực. Nếu thế hệ của Nguyễn Đức Quang không làm được điều đó thì chúng ta cũng có thể tin chắc một điều: các thế hệ mai sau của người Việt Nam sẽ làm được điều đó!

Xin hãy cùng nhau tưởng nhớ đến một người đã cùng chia sẻ với chúng ta những kỷ niệm của một thời chiến tranh, một thời ly tán – thời của những hy vọng và thất vọng, thời của sự đan xen giữa lý tưởng trong sáng và thực tế khắc nghiệt. Nhưng đó cũng là một thời của những sinh hoạt thanh niên sôi nổi, thời của những tình cảm đầm ấm, những mối liên hệ thân thiện đã nảy sinh từ trong khói lửa chiến tranh và từ những nỗi buồn ly biệt. Cũng chính từ trong đau thương và mất mát, đã nảy sinh tình thân yêu giữa những người hoạt động thanh niên, những người yêu âm nhạc và yêu sinh hoạt cộng đồng, yêu lời ca và tiếng hát, yêu đời và yêu người, những người tin vào chính mình đồng thời luôn hướng đến tha nhân, những người luôn nuôi dưỡng những niềm “hy vọng đã vươn lên”, đang vươn lên và mãi mãi sẽ vươn lên như những lời ca, tiếng nhạc mà Nguyễn Đức Quang đã để lại cho đời, cho người và cho cả dân tộc…

Đà Lạt ngày 3-4-2011

© Mai Thái Lĩnh (tức Hoàng Thái Lĩnh)

© Đàn Chim Việt


[1] Trầm trong tiếng Hán-Việt có nghĩa là “chìm xuống, sâu kín”. Trầm tư: suy nghĩ sâu xa.

[2] Sương Nguyệt Anh là bút hiệu của bà Nguyễn Ngọc Khuê, còn gọi là bà Năm Hạnh, người con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (tức cụ Đồ Chiểu). Bà là người phụ nữ đầu tiên của Việt Nam làm chủ bút một tờ báo. Thời chúng tôi tạm trú ở đó, bảng tên đường ghi là Sương Nguyệt Ánh nên chúng tôi quen gọi là  đường Sương Nguyệt Ánh.

[3] Xưởng là một thuật ngữ  có nguồn gốc từ Hướng đạo, dùng để chỉ một bộ phận chuyên ngành chuyên nghiên cứu hoặc sáng tác nhằm phục vụ các sinh hoạt thanh thiếu niên.

                    * * * * *

Thế hệ 1970 và nhạc Nguyễn Đức Quang

Bùi Văn Phú  

Thứ Ba, 29 tháng 3 2011

Những năm trước 1968, hồi còn học trung học đệ nhất cấp tức cấp 2 ngày nay, ở trường Thánh Tâm, Ngã ba Ông Tạ có thày Nguyễn Xuân Sinh dạy Việt văn kèm dạy nhạc. Tôi nhớ bài nhạc đầu tiên học từ thày có lời:

Vầng trăng mờ
một trời thơ
xa xa tiếng ca êm đềm đưa
chân mây thưa
ánh sao úa
sương buông mờ đường về làng xưa

Đó là một bài hát với nhịp điệu chậm rãi. Học trò còn được học đánh nhịp 4/4, ¾ rồi 2/4, từ chậm lên nhanh. Bài hát nhanh thày dạy là:

Không phải là lúc cứ ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi
phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới
hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau
nghi ngờ nhau khích bác nhau cho cay cho sâu cho thật đau

Không phải là lúc cứ ngồi mà cãi suông
không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai dắt đầu
thế giới ngày nay không còn ma quái thần tượng tàn rồi
còn anh với tôi chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi.

Khi đó tôi không biết ai sáng tác bài hát trên, nhưng vừa hát vừa vỗ tay để giữ nhịp và thày dạy cho hát từ vừa đến thật nhanh, rồi hát đuổi nên đã cho chúng tôi những giờ vừa học vừa sinh hoạt vui trong lớp.
Bài hát được học thời đó, đến nay tôi vẫn còn thuộc.

 Khi nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời, tôi ngồi viết ra những giòng này là ghi lại từ trí nhớ mình, dù đã hơn 40 năm trôi qua nhưng lời nhạc trong lớp học xưa còn như văng vẳng đâu đây. Bài hát ở lại với tôi từ đó và ít nhiều trở thành một lời hướng dẫn cho tôi về tinh thần dấn thân và cách làm việc tập thể, khác với những thế hệ trước.

Lên trung học rồi đại học, tôi thuộc thêm được nhiều bài hát cộng đồng nữa. Thường tham gia sinh hoạt, ca hát nên những bài như “Gia tài của mẹ”, “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn, như “Việt Nam Việt Nam” của Phạm Duy; “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, “Hy vọng đã vươn lên”, “Đường Việt Nam” của Nguyễn Đức Quang là những bài hát rất được phổ biến nơi sân trường, trong những cuộc họp mặt thanh niên sinh viên, tại những trại hè. Những ca khúc đã là niềm mơ ước, đã đem đến cho chúng tôi sự phấn đấu của tuổi trẻ cùng suy nghĩ về quê hương đất nước trong giai đoạn có quá nhiều đau khổ, nhiễu nhương.

Nhưng trong đám sinh viên, thỉnh thoảng lại được nghe lén một vài bài hát không được loan truyền rộng rãi, từ một băng cát-sét chỉ có giọng ca và tiếng đàn ghi-ta thùng. Loại âm nhạc mang tính phản chiến, có thể bị xếp vào loại thân cộng nữa:

Xương sống ta đã oằn xuống
cuộc bon chen cứ đè lên
người vay nợ áo cơm nào
thành nợ máu trăm năm còn thiếu
một ngày một kiếp là bao
một trăm năm mấy lúc ngọt ngào
ôi đến bao giờ được nói tiếng an vui thực thà

Người bị treo hết hai tay và đóng đinh vào óc
miệng hô lớn kiên cường hoài mà trái tim bật khóc
cuộc sống đó rồi đi đâu
nhìn nước dâng chân cầu
trời còn mù mịt lắm
hỡi đồng bào khắp chốn thương nhau

Hay những câu ca dưới đây, nếu là thanh niên sinh viên thời đó nghe mà không cảm thấy thấm thiá, xót xa cho thân phận con người Việt Nam sao được.

Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
vú mẹ gầy cơm chẳng nuôi thân
vắt tình này thôi máu mẹ nuôi con

Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
nghe xung quanh nghiêng ngã cợt cười
cạnh chén cơm chan máu dân tôi…

Sao giống nòi vẫn vương buồn
sao giống nòi mãi nguy nàn
bao giờ cho người không còn nghe
lại tên Việt Nam nhược tiểu

Anh nghĩ gì núi sông này?
em nghĩ gì nước non này?
buồn hay vui, tình quê hương
có nấu nung lửa hờn?

Những lời ca như thế, nghe lén lút vì sợ có ai biết được báo cảnh sát nên lại dễ nhập tâm. Rồi chúng theo tôi rời quê hương.

Đến Hoa Kỳ, tôi cùng một số bạn tổ chức sinh hoạt sinh viên tại Đại học Berkeley và với các sinh viên bạn ở Bắc và Nam California trong nhiều sinh hoạt văn nghệ, đấu tranh. Qua giao tiếp với những đàn anh tôi mới biết những lời ca trên cũng chính là những sáng tác của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang và hai bài là “Xương sống ta đã oằn xuống” và “Nỗi buồn nhược tiểu”.

Có một bài ca tôi nghe được khoảng năm 1974, mang e nhạc mà tôi ngờ là của Nguyễn Đức Quang, nhưng đến nay vẫn không chắc. Tôi ghi theo kí ức như thế này:

Năm chục đồng ai mua tôi bán
năm triệu đồng ai mua tôi bán
năm chục đồng một thằng thanh niên
năm chục đồng một thằng sinh viên
đôi chân còn lành đôi tay còn mạnh
ai mua tôi bán ai mua tôi bán
thêm một triệu đồng bán cả dân tôi
thêm một triệu đồng bán cả lương tâm

Tôi có nhiều dịp nghe Nguyễn Đức Quang hát ở Mỹ. Những năm đầu thập niên 1980 anh hát với sinh viên Việt Nam ở U.C. Los Angeles, với người Việt San Jose trên sân khấu Center for the Performing Arts. Những điệu nhạc, lời ca của Nguyễn Đức Quang lúc nào cũng sùng sục sôi. Nói như nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng là như “thổi đến trái tim người nghe hơi nóng hừng hực của một trái tim bốc lửa”.

Ba mươi năm qua Nguyễn Đức Quang vẫn với trái tim bốc lửa ôm đàn du ca.

Lần sau cùng tôi nghe anh hát là ở San Jose cách đây đúng ba năm về trước. Hôm đó, cùng với những du ca một thời như Trương Xuân Mẫn, Nguyên Nhu, Trần Anh Kiệt, Đồng Thảo đã lại thổi vào hồn tôi và khán giả những lời ca hào hùng của người anh trưởng du ca Việt Nam, làm tim tôi rộn ràng:

Nhưng càng mưa giông càng vươn tới
bước chân hùng còn đi rất hăng
đi dựng lấy huy hoàng
giống da vàng này là vua đấu tranh

Đường của ta đưa ta về thanh bình
đường an lành đường thảnh thơi những ngày vui
đường Việt Nam mời những bước chân rời
sát nhau lại vì đường vẫn còn dài

Tôi thuộc thế hệ sinh viên của những năm đầu 1970 ở quê nhà. Không như đàn anh đã dấn thân, tôi chỉ bắt đầu nhập cuộc, thừa hưởng lời ca, tiếng hát của các anh các chị truyền lại. Những ca từ về tuổi trẻ, đất nước trong một thời kì cực khốn của quê hương.

Các bạn của thế hệ 1970 ơi. Tiễn Nguyễn Đức Quang chúng ta cùng nhau cất cao tiếng hát nhé:

….
ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời

….
hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên

Sớm 27.03.2011 trái tim trong người Nguyễn Đức Quang ngừng đập sau 68 năm sôi sục theo dòng đời. Nhưng những âm điệu của anh còn đập mãi trong tim con người và đất nước Việt Nam.

Berkeley 27.03.2011

Mỗi khi đọc được những gì nhắc đến năm tháng… “hơn nửa thế kỷ” trước, đến sinh hoạt PG , hoặc đời sống Áo Lam v.v..trên Internet, tôi luôn nghĩ đến bác Liệu và thường phóng to font chữ&in ra giấy cho bác đọc…
Bác hay nói chuyện cho tôi nghe, về Cựu hoàng Bảo Đại, về Gia tộc & về Huế kính yêu…Cả một quyển “Why Viet Nam”, chuyện Lịch sử, bác như nằm lòng,  khi có người ngồi nghe (như tôi)…bác tuôn ra như cho tôi được đọc những quyển sách ấy;  Và nhiều sự kiện lắm, bác Nhuận Pháp Tôn Thất Liệu viết, ghi chép trong bản thảo ” Việt Nam bất hạnh” của bác… Những thăng trầm, những đau thương của đất nước, bác dồn uất nghẹn trong những trang giấy từ vở học trò kẻ những dòng ô ly vuông vuông, nho nhỏ.
Tôi nhiều lần xin bác (đã đến lúc)…”kết luận” đi..để chuyển thành những trang đau thương trên sách, ước mong đến được mọi người cùng nỗi niềm ưu tư!.
Tôi đã chẳng làm được việc “vui” này cho bác…! Bác cứ  còn cẩn tắc..”bổ sung” hoài, mỗi khi bác đọc “được” thêm vài đều gì đó từ sách hiếm&sót lại (sau thời kỳ “đốt sách vở” năm xưa,bác tìm được ), bác thường nói: “may quá, may quá !;
…hay tại tôi cứ thương bác “sưu tầm” thêm cho bác đọc !.
Những trang bản thảo cứ dần dầy lên cả xấp, từ khi nét chữ của bác cứng cáp nghiêng nghiêng, nét chữ của những người xưa : Tự trọng, đàng hoàng và mẫu mực. Đến những trang sau này …chữ bác đã cưng cứng run rẩy…bác cứ nói với tôi cho an tâm, bác đã đưa anh con trai của bác “đánh máy” rồi…
(Di bút của Bác Liệu :http://www.ahvinhnghiem.org/DibutTSTTL.html)
Những ngày trước lúc từ giả cõi tạm này…bác “để dành” đưa cho tôi những dòng viết hoài cảm Áo Lam, tình “Bắc-Trung-Nam”, về Bác Tâm Thông Nguyễn Đức Lợi, thâm tình của Anh chị em gia đình Phật tử , giòng Vĩnh Nghiêm mãi mãi, bác viết đậm nét…   
Hôm nay, ngồi bên bàn phím…bên: Thiệp mời Lễ cầu siêu tiểu tường. Hương Linh: Cụ Nguyễn Phúc Tôn Thất Liệu Pháp danh : Nhuận Pháp… hưởng thọ 83, ..từ trần ngày 05 tháng 8 năm 2010…
Tôi rưng rưng, nghèn nghẹn trong lòng vì không gõ được phím “enter” để “print” cho bác đọc…bài viết “hơn nửa thế kỷ trước”( tôi copy bên dưới);.. rồi lại chạy đến bên bác, đưa bác đọc, ngồi nghe chuyện bác kể; tôi “phạm” việc tự cấm tôi.. là “không để bác buồn lo thêm” cho đất nước bất hạnh này,  hầu mong…giử gìn sức khỏe cho Bác Tôn Thất Liệu kính yêu của tôi. 
22/7/2011
tdh 

Nhìn lại lịch sử, hậu thế luôn có thể đặt ra vô vàn thắc mắc và tiếc nuối. Dẫu biết rằng “với một chữ “nếu”, người ta có thể nhét cả Paris vào một cái chai”, nhưng cũng không thể ngăn cản các thế hệ ngày nay hỏi: Tại sao lại như thế? Có cách nào tốt hơn không? Câu chuyện Hiệp định Geneva chia cắt đất nước năm 1954 đã làm nảy sinh ra những câu hỏi như vậy.

Ông Lý Văn Sáu, nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam, vốn là cán bộ Ủy ban Liên hợp Đình chiến Liên khu V giai đoạn “hậu Geneva”. Ở cương vị của mình, ông đã chứng kiến gần như toàn bộ bối cảnh xã hội thời gian ấy – những cảm xúc buồn vui, âu lo, thắc mắc, và cả nỗi đau chia cắt. “Hiệp định Geneva đến với đồng bào Liên khu V giữa lúc bà con đang phấn khởi, tinh thần chiến đấu và khí thế của nhân dân rất cao” – ông Sáu kể lại trong một bài viết hồi tưởng về những ngày đầu thực hiện Hiệp định Geneva. “Tuy nhiên, ngay cả chúng tôi, những cán bộ của Liên khu, cũng không có trong tay bản Hiệp định này, chỉ được thông báo những nét chính. Còn đối với đồng bào, sự hiểu biết còn sơ lược hơn nữa” (*).

Trong bối cảnh thiếu thông tin như vậy, một cuộc chạy đua trong tuyên truyền đã bắt đầu để vận động quần chúng “ra sức đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc, đặng thống nhất nước nhà” như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Được biết về thời hạn hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử rồi, nhưng bà con vẫn rất lo lắng trước một tương lai bất định. Câu hỏi lớn nổi lên là tại sao phải chia cắt đất nước, tại sao phải tập kết, tại sao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không tận dụng lợi thế sau chiến thắng Điện Biên Phủ?

Đã có nhiều người băn khoăn như thế – ông Lý Văn Sáu viết – “nhưng rồi tự nói với nhau rằng: Trung ương hiểu hơn chúng ta, Liên Xô, Trung Quốc hiểu hơn chúng ta, những người “anh lớn” tán thành như vậy là cần thiết, không nên thắc mắc. Tuyệt nhiên không có một ai cho rằng ta “buộc” phải ký Hiệp định vì đã “kiệt quệ vì chiến tranh” và “không còn đủ sức để tiếp tục chiến đấu””.

Sau một cuộc chiến 3.000 ngày…

Hội nghị Geneva khai mạc chỉ một ngày sau khi tập đoàn cứ điểm của Pháp ở Điện Biên Phủ thất thủ. Ngay cả cho đến bây giờ, nhiều người vẫn thắc mắc vì sao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không nhân đà chiến thắng mà đấu tranh trên bàn đàm phán để giành được một nước Việt Nam độc lập, thống nhất?

Theo số liệu do Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị công bố, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội Việt Nam đã tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống 16.200 lính Pháp và quân quốc gia (trong đó phần lớn là những người thuộc phía bên kia), chiếm chưa đầy 4% tổng binh lực Pháp – quân quốc gia ở Đông Dương. Quân Pháp vẫn còn tới hơn 330.000 lính, trong khi bộ đội chủ lực của Việt Nam chỉ có 290.000, đó là chưa tính số thương vong trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.

Một ý kiến khác từ chính Tướng Navarre – Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương – cho rằng Việt Minh dồn hết sức vào chiến dịch Ðiện Biên Phủ và đã kiệt quệ sau chiến thắng. Navarre nói lính Pháp chết khoảng 1.500 người, 4.000 người bị thương, trong khi phía Việt Minh mất 10.000 người, 15.000 người bị thương.

Những con số thống kê này nói lên một khả năng là, sau một cuộc chiến 3.000 ngày, “tuy ta thắng lớn, tinh thần quyết chiến quyết thắng đang dâng cao, nhưng do dốc toàn lực cho trận Điện Biên Phủ nên sức lực của bộ đội ta đã phần nào mỏi mệt”, theo nhận định của Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà (Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam). Đó là chưa kể, sau lưng Pháp còn có Mỹ, lúc đó đã hỗ trợ cho Pháp và sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương để ngăn cản ảnh hưởng của khối XHCN tại đây.

Một khó khăn lớn khác cho Việt Nam là các cuộc đàm phán Geneva không diễn ra song phương giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp như thời 1945, mà đã bị quốc tế hóa theo vấn đề Đông Dương. Trong các cuộc thương lượng đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một nước nhỏ.

Đơn độc Việt Nam Quốc gia

Phái đoàn Việt Nam Quốc gia, mặc dù đại diện cho một chính quyền do Pháp dựng lên và được phương Tây công nhận, nhưng đã đến Geneva với một vị thế có vẻ như nhạt nhòa. Do được Pháp dựng lên nên họ khó mà tránh khỏi việc bị động theo Pháp. Chiều 20 tháng 7, Trưởng đoàn Liên Xô Molotov tổ chức họp tại biệt thự riêng, đã không mời đại diện phía Mỹ và phái đoàn Bảo Đại. Tại cuộc họp này, Pháp và các nước lớn quyết định việc chia cắt Việt Nam và ấn định thời điểm tổng tuyển cử, mà không đếm xỉa gì tới cái chính quyền mà chính Pháp đã dựng lên.

Hay tin này, Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Quốc gia, bác sĩ Trần Văn Đỗ, đã đứng lên nghẹn ngào phản đối giữa Hội nghị, không chấp nhận chia cắt đất nước ở bất cứ đâu. Nhưng cho dù Việt Nam Quốc gia có phản đối, thì mọi sự vẫn diễn ra như chúng ta đã biết.

Đất nước chia hai miền. Ông Lý Văn Sáu kể lại chuyện ở Liên khu V ngày ấy trong những dòng cảm động: “…Có những cặp thanh niên nam nữ vội tổ chức đám cưới “cho kịp ngày tập kết” rồi ngồi nắm tay nhau trên bến tàu Quy Nhơn, thức suốt cả đêm sau lễ cưới trước lúc người chồng, hoặc người vợ, lên tàu. Người ta nói với nhau trong nụ cười, trong nước: chờ nhau, hai năm nhé! Hai năm thôi, có bao lâu! Suốt dọc đường ta chuyển quân, đồng bào treo cờ đỏ sao vàng, đỏ rực như một lời nguyền mãi mãi giữ ngọn cờ này trong lòng mình”.

Không ai trong những con người ấy nghĩ rằng cuộc chiến sẽ kéo dài, không phải hai năm mà 21 năm.

Với tất cả những cái “giá như…”

Một số người sau này đặt vấn đề: Giá như hai miền Việt Nam có thể đoàn kết làm một khối để tăng sức mạnh. Giá như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có những cuộc vận động hành lang, đàm phán và thỏa hiệp trực tiếp với Pháp để gạt bỏ sự can thiệp của tất cả các phe phái khác.

Nhưng điều đó là bất khả vì nhiều lẽ. Trước hết là những hạn chế về kinh nghiệm ngoại giao. Theo nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao Nguyễn Phúc Luân, chúng ta đã “quá tin tưởng vào nước bạn, để bạn chi phối cả diễn đàn. Thậm chí đoàn ta chưa chủ động tiếp cận với đối phương, cho đến khi ở nhà nhắc nhở Trưởng đoàn Việt Nam mới gặp Mendès-France (ngày 13 tháng 7)”.

Thêm vào đó là sự khó khăn trong công tác thông tin liên lạc. Do kỹ thuật không cho phép, toàn bộ việc liên lạc của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều phải thông qua hệ thống điện thoại của Trung Quốc, điều này cản trở mọi sự phối hợp ra bên ngoài hoặc liên hệ về nước.

Cuối cùng, Hội nghị diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, mâu thuẫn ý thức hệ giữa hai khối đang sâu sắc. Ảnh hưởng của các cường quốc lên kết quả đàm phán là điều không thể tránh khỏi.

Nói cách khác, trước sức ép của các nước lớn, cả hai miền Việt Nam đều đã không thể đấu tranh cho một tương lai chung của dân tộc.

Không thay đổi được lịch sử, nhưng chúng ta có thể lấy từ câu chuyện Geneva nhiều bài học có giá trị. Chẳng hạn, cần phải hết sức tích cực, chủ động, vừa hợp tác vừa đấu tranh trong quan hệ với nước lớn. Với bài học này rút ra từ Hội nghị Geneva, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bước vào bàn đàm phán trực tiếp với Mỹ tại Hội nghị Paris 1973, nơi chúng ta phối hợp kết quả đấu tranh trên cả mặt trận ngoại giao lẫn quân sự, và tranh thủ rất tốt dư luận quốc tế. Có nhà nghiên cứu đã gọi việc kết hợp hợp tác và đấu tranh là “một phong cách linh hoạt đặc sắc của ngoại giao Việt Nam”.

Tuy nhiên, bài học lớn nhất có lẽ là: không thể mơ hồ về động cơ, mục đích của mỗi nước lớn trên bàn cờ quốc tế; và khi phải lựa chọn, chỉ có thể đặt lợi ích dân tộc lên cao nhất (thực tế cho thấy các quốc gia ở Hội nghị Geneva đều đã làm như vậy. Chính vì thế mà đồng minh của chúng ta trong khối XHCN lại trở thành trung gian đàm phán giữa hai khối và áp đặt số phận đất nước ta).

Hơn nửa thế kỷ sau Hiệp định Geneva, bài học lớn ấy vẫn còn nguyên tác dụng nhắc nhở: Lợi ích dân tộc (độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ) là giá trị bất biến, là ngọn cờ để huy động người dân Việt Nam góp phần trong mỗi dự án tương lai chung của đất nước.

(*) Tư liệu trong cuốn “Hiệp định Geneva – 50 năm nhìn lại”, Bộ Ngoại giao và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004

Đ.T.

Nguồn: http://trangridiculous.blogspot.com/

Welcome to WordPress.com. After you read this, you should delete and write your own post, with a new title above. Or hit Add New on the left (of the admin dashboard) to start a fresh post.

Here are some suggestions for your first post.

  1. You can find new ideas for what to blog about by reading the Daily Post.
  2. Add PressThis to your browser. It creates a new blog post for you about any interesting  page you read on the web.
  3. Make some changes to this page, and then hit preview on the right. You can alway preview any post or edit you before you share it to the world.
Design a site like this with WordPress.com
Get started